Chương trình học mới dành cho học sinh tiểu học

Khung nội dung chính:
1. Đảm bảo việc tổng hợp kiến thức trên lớp học trong một tuần.
2. Định hướng thành công thái độ và các kỹ năng sống cần thiết và chuyên sâu cho học sinh phát triển.
3. Rèn luyện và phát triển kỹ năng lãnh đạo, tự tin giao tiếp

Thông tin chi tiết xem tại đây
 

0

NGÀY

0

GIỜ

0

PHÚT

0

GIÂY

MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1

 - Người đăng bài viết: Đoàn Ngọc Anh  - Chuyên mục : Các bài tập mẫu

Ttieuhoc.daytot.vn giới thiệu Một số biện pháp luyện đọc đúng cho giáo viên và quý phụ huynh tham khảo cho các bé lớp 1.

 

 

 Đọc mẫu:

- Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc của giáo viên phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn.

- Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2 đến 3 bài đầu) giáo viên chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi cô đọc ở trên bảng, nhưng ở giai đoạn sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo cho các em có thói quen làm việc với sách.

 

Hướng dẫn đọc

 

Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:

- Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng

- Dạng văn xuôi

Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:

- 23 bài dạng văn xuôi

- 19 bài dạng thơ

Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết

 Luyện đọc từ ngữ

Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn khi đọc có ở trong bài. Để thực hiện được tốt phần này, ngoài việc cần lựa chọn thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện điều này.

Thí dụ: Bài  “Hoa Ngọc Lan”

Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau

“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”

Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ hoa, cánh xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh. Cụ thể như:

 

Từ

Học sinh đọc nhầm

Xanh thẫm

          Sanh  thấm

Nụ hoa

Nụ hao

Cánh xoè ra duyên dáng

Cánh xèo ra duyên dáng

Ngan ngát

Ngan ngác

Toả khắp vườn, khắp nhà

Toả khắc vườn, khắc nhà

Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy khó đọc trong khi phát âm.

Thí dụ: Bài “Chú công”

Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh” nhưng các em học sinh lớp  tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc đó là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “màu xắc”, “xoè tròn” với “xèo tròn”

Khi cho các em luyện đọc từ ngữ, giáo viên nên kết hợp phân tích tiếng để giúp học sinh nhớ lại những âm vần đã học. Tuy nhiên chúng ta cần tập trung gọi những học sinh đọc còn yếu, song để giúp những em này đọc được đúng thì việc gọi một số em giỏi đọc thật to, thật chính xác là một việc làm không thể thiếu bởi vì các em yếu sẽ bắt chước các bạn để đọc, và như vậy các em sẽ có ý thức tự sửa hơn. Sau đó cả lớp sẽ đồng thanh những từ ngữ này. Cần tăng cường cho các em nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự sửa lại cho bạn. Nếu học sinh không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời uốn nắn sửa sai ngay cho các em. Nhất thiết phải có khen chê kịp thời.

- Không chỉ luyện đọc đúng từ trong giờ tập đọc mà trong các tiết tăng cường Tiếng Việt tôi cũng luôn đưa ra những bài tập phân biệt phụ âm đầu và vần để giúp các em phát âm tốt hơn.

Ví dụ: Dạng bài tập điền vần hoặc điền phụ âm đầu, vần hay sai do phương ngữ của vùng miền

+ Bài tập 1: Điền im  hay iêm

T…. phòng     ,   Quả  t …..,    

+ Bài tập 2: Điền  r, d, gi

… ộn….ã    ,    …..ập ….ờn     ,      tháng…..iêng

+ Bài tập 3: Điền s, x

…ản …uất         ,      …anh….anh        ,         …o….ánh

…ung phong     ,      ….ừng…ững

+ Bài tập 4: Điền vần  ăc, ắt  hay ăp

m….. trời        ,         m….. áo        ,        đôi  m……

kh……… nơi     ,      th……. nến

+ Bài tập 5: Điền vần anh hay ăn

ch..… len    ,     c…… đẹp     ,       c…… nhà          

m…. khoẻ      ,      bức tr…….

.v..v và còn nhiều bài tập khác dạng như trên. Sau khi học sinh điền xong, giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các em đọc. Nếu các em đọc sai giáo viên phải kịp thời uốn nắn ngay. Phần luyện đọc từ nếu giáo viên làm tốt, hướng dẫn học sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc trơn bài đọc tốt hơn.

 Đọc đúng: dạng thơ

Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm xúc đến người nghe. Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để thể hiện sắc thái, tình cảm. Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc không thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ. Thực tế cho thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực của nhạc thơ. Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao. Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn

Ví dụ: Bài “Tặng Cháu”

Vở này / ta tặng cháu yêu ta

Tỏ chút lòng  yêu cháu / gọi là

Mong cháu / ra công mà học tập

Mai sau / cháu giúp nước non nhà

Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không bị quên.

Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở  từng câu thơ (vì những bài thơ của lớp 1 thường là ngắn nên công việc này cũng không chiếm quá nhiều thời gian trong tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhận ngay. Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh.

Ví dụ: Bài “Mẹ và cô”

Học sinh thường ngắt nhịp như sau:

Buổi sáng / bé chào mẹ

Chạy tới ôm / cổ cô

Buổi chiều / bé / chào cô

Rồi sà / vào lòng mẹ

Mặt trời / mọc / rồi lặn

Trên đôi chân / lon ton

Hai chân trời / của con

Là mẹ / và cô giáo

Tôi đã sửa lại những câu học sinh sai và nêu cho các em thấy tại sao ngắt nhịp như vậy lại là sai.

Ví dụ: Câu “chạy tới ôm cổ cô” ngắt nhịp như trên là sai vì “ôm cổ cô”là một cụm từ liền nhau, nếu ngắt giọng ở sau chữ “cổ” thì cụm từ đó sẽ bị tách ra và nghĩa của nó sẽ không rõ ràng. Hay câu “Buổi chiều bé chào cô” cũng tương tự tôi đã sửa cách đọc bài thơ trên như sau:

Buổi sáng / bé chào mẹ

Chạy tới / ôm cổ cô

Buồi chiều / bé chào cô

Rồi / sà vào lòng mẹ

Mặt trời mọc / rồi lặn

Trên đôi chân lo ton

Hai chân trời / của con

Là mẹ / và cô giáo

Ví dụ: Bài “Kể cho bé nghe”

Khi đọc học sinh thường ngắt mỗi dòng thơ một lần là do thói quen  nhưng tôi đã sửa lại và hướng dẫn cho các em cách đọc vắt dòng: cuối dòng 1 đọc vắt luôn sang dòng 2, cuối dòng 3 đọc vắt luôn sang dòng 4. Cứ như thế cho đến hết bài.

Bên cạnh việc rèn đọc đúng trong các giờ tập đọc ở trên lớp thì trong các tiết tăng cường tiếng Việt tôi cũng thường đưa ra những câu thơ hoặc bài thơ ngắn để giúp học sinh luyện đọc và ngắt giọng, cũng có thể đó là những câu ứng dụng hay bài ứng dụng đã có ở phần học vần.

Ví dụ:

“Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô”

Hay

      “Tiếng dừa làm dịu nắng trưa

Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo

      Trời trong đầy tiếng rì rào

Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra”

 Đọc đúng: dạng văn xuôi

Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt, nghỉ hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ. Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh ngắt hơi cho phù hợp. Cụ thể tôi cho học sinh tự tìm những câu văn dài đó hoặc do chính giáo viên đưa ra. Sau đó yêu cầu học sinh xác định cách ngắt giọng, gọi học sinh nhận xét đúng sai. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cũng chưa nên hỏi nhiều quá về việc tại sao các em lại ngắt giọng như vậy mà nếu thấy đúng thì giáo viên công nhận ngay, còn nếu sai thì sửa cho các em và giải thích để các em thấy rõ hơn. Sau khi xác định ngắt giọng ở mỗi câu văn dài bao giờ giáo viên cũng phải nhấn mạnh cho các em thấy tầm quan trọng trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu văn, đoạn văn. Muốn xác định cách ngắt giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa vào các tiếng, từ, dấu câu.

Ví dụ 1: Bài “Trường em”

Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:

       “Ở trường / có cô giáo hiền như mẹ / có nhiều bè bạn thân thiết như anh em /”

Tôi treo bảng phụ chép sẵn câu này lên bảng và hướng dẫn cách ngắt hơi như trên (vì đây là bài đầu tiên trong chương trình tập đọc nên tôi hướng dẫn luôn cách đọc).

Ví dụ 2: Bài “Đầm sen”

Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng như sau:

“Suốt mùa sen / sáng sáng lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ lá / hái hoa”

Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau:

“Suốt mùa sen, / sáng sáng / lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ lá / hái hoa //”

Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ “sáng sáng” để nhấn mạnh thêm về thời gian mà con người đi thăm đầm sen.

Đối với những bài có lời thoại, giáo viên phải hướng dẫn kỹ học sinh cách lên giọng cuối câu hỏi và xuống giọng cuối câu kể (câu trả lời)

Ví dụ 3: Bài “Vì bây giờ mẹ mới về”

Hướng dẫn học sinh đọc từng câu thoại của mẹ và của con. Những câu hỏi của mẹ:

Con làm sao thế? (đọc lên giọng cuối câu)

Những câu trả lời của cậu bé.

Con bị đứt tay. Lúc nãy ạ ! Vì bây giờ mẹ mới về  (đọc xuống giọng ở cuối câu).

Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên phải gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.Việc luyện đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài được trôi chảy, lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản được học mà không phải tình trạng học vẹt.

Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện đọc thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân, đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.

Luyện đọc củng cố và nâng cao

Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời gian để luyện đọc củng cố và nâng cao. Trong phần này giáo viên cho học sinh luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó được tham gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời. Trong quá trình học sinh đọc giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai cho các em. Đối với những bài đọc có lời đối thoại nên cho các em đọc theo lối phân vai. Đối với bài thơ cần cho các em đọc nhiều. Một tiết học tập đọc chỉ có 35 – 40 phút, vì vậy để đảm bảo thời gian và chất lượng giờ học, học sinh phải đọc trước văn bản ở nhà. Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống có thể xảy ra khi hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay. Muốn vậy giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh tự tìm ra kiến thức.

 

Nguồn tin: Giáo viên Lê Thị Nguyệt - tiểu học Quảng Châu


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thăm dò ý kiến

Các bậc phụ huynh muốn con học gì khi ở lứa tuổi cấp 1

Top